Ai được ban hành định mức xây dựng: ba tầng thẩm quyền từ 01/7/2026

Hồ sơ dự toán của bạn dẫn một định mức do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành. Người thẩm định hỏi lại: sao không dùng định mức của Bộ Xây dựng? Ai đúng, và trả lời thế nào cho gọn?

Câu trả lời nằm ở thẩm quyền ban hành định mức xây dựng — một quy định ngắn nhưng bị hiểu sai rất phổ biến. Bài này giải thích ba tầng thẩm quyền theo khung pháp lý có hiệu lực từ 01/7/2026, và chỉ rõ khi nào dùng định mức nào.

Cập nhật lần cuối: 25/8/2026. Bài này nằm trong cụm bài về hệ thống định mức xây dựng Việt Nam. Mọi số hiệu trong bài đã đối chiếu tối thiểu hai nguồn độc lập hoặc bản gốc văn bản.
Nội dung bài viết
  • Ba tầng thẩm quyền ban hành định mức
  • Nguyên tắc bổ khuyết, không phải nguyên tắc ưu tiên
  • Năm bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành
  • Cấp tỉnh tự quyết từ 12/6/2025
  • Ngoài ba tầng còn ai được xác định định mức
  • Nghĩa vụ rà soát và cập nhật
  • Bốn việc kiểm tra khi hồ sơ dẫn định mức không phải của Bộ Xây dựng

Ba tầng thẩm quyền ban hành định mức

Quy định gốc nằm ở khoản 1 Điều 20 Nghị định 206/2026/NĐ-CP. Ba điểm a, b, c của khoản này chia thẩm quyền ban hành định mức thành ba tầng:

ĐiểmAiBan hành cái gì
aBộ Xây dựngTổ chức xây dựng, ban hành định mức xây dựng sử dụng chung trong phạm vi cả nước
bBộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngànhTổ chức xây dựng, ban hành định mức dự toán cho các công tác xây dựng thuộc chuyên ngành quản lý nhưng chưa có trong hệ thống định mức do Bộ Xây dựng ban hành
cUỷ ban nhân dân cấp tỉnhTổ chức xây dựng, ban hành định mức dự toán cho các công tác xây dựng trên địa bàn địa phương nhưng chưa được Bộ Xây dựng và bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành

Hai cụm «nhưng chưa có» ở điểm b và «nhưng chưa được» ở điểm c là hai cụm từ quyết định toàn bộ cách hiểu. Chúng biến ba tầng này thành một chuỗi lấp chỗ trống, không phải ba nguồn cạnh tranh.

Bản đồ thẩm quyền ban hành định mức xây dựng: ba tầng và các chủ thể khác
Bản đồ thẩm quyền ban hành định mức: ba tầng ban hành, cộng các chủ thể chỉ được xác định định mức cho công trình của mình.

Nguyên tắc bổ khuyết, không phải nguyên tắc ưu tiên

Rất nhiều người đọc bảng thẩm quyền ban hành định mức ở trên rồi hỏi: nếu cùng một công tác mà cả Bộ Xây dựng và bộ chuyên ngành đều có định mức thì dùng cái nào? Câu hỏi này đặt sai vấn đề.

Theo cách quy định hiện hành, tình huống đó không được phép phát sinh. Bộ chuyên ngành chỉ ban hành cho công tác mà Bộ Xây dựng chưa có; cấp tỉnh chỉ ban hành cho công tác mà cả hai cấp trên chưa có. Ba tập hợp này về nguyên tắc không giao nhau.

Cách dùng đúng trong một bộ dự toán. Không phải chọn một trong ba, mà là dùng cả ba, mỗi cái cho phần việc của nó. Lập dự toán công trình thuỷ lợi thì tra Thông tư 38/2026/TT-BXD cho các công tác chung như đào đắp, bê tông, cốt thép; tra định mức chuyên ngành thuỷ lợi cho các công tác đặc thù mà thông tư chung không có; và tra định mức đặc thù của tỉnh nếu vẫn còn công tác chưa có ở hai cấp trên.
Chỗ bài viết này không dám khẳng định. Nếu trên thực tế vẫn xảy ra chồng lấn — cùng một công tác có ở hai tầng với hao phí khác nhau — thì em không tìm được quy định nào nêu minh thị quy tắc xử lý. Pháp luật thiết kế theo cơ chế bổ khuyết nên không dự liệu tình huống này. Gặp trường hợp đó, cách an toàn là hỏi trực tiếp cơ quan thẩm định trước khi lập, thay vì tự chọn rồi giải trình sau.

Năm bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành

Tầng hai chỉ áp dụng cho bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành. Đây là một khái niệm được định nghĩa đích danh, không phải cách gọi chung cho mọi bộ.

Khoản 18 Điều 3 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 định nghĩa đó là bộ được giao nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng công trình thuộc chuyên ngành xây dựng do mình quản lý, và liệt kê đúng năm bộ:

  • Bộ Công an
  • Bộ Công Thương
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường
  • Bộ Quốc phòng
  • Bộ Xây dựng
Bộ Giao thông vận tải không có trong danh sách — vì bộ này đã không còn tồn tại từ ngày 01/3/2025, sau khi sáp nhập vào Bộ Xây dựng. Hồ sơ hay bài viết nào còn ghi «Bộ Giao thông vận tải» trong danh sách bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành là đang dùng thông tin của khung cũ. Chi tiết về hệ quả với định mức giao thông em viết ở bài Định mức chuyên ngành sau sáp nhập bộ.

Ngoài năm bộ đó vẫn có cơ quan có thẩm quyền ban hành định mức

Đây là điểm dễ gây bối rối. Danh sách năm bộ trên là danh sách thẩm quyền ban hành định mức theo Luật Xây dựng. Nó không có nghĩa các bộ khác không được ban hành định mức — họ ban hành theo thẩm quyền của luật chuyên ngành khác.

Ví dụ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành định mức kinh tế kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích tại Thông tư 06/2025/TT-BVHTTDL ngày 13/5/2025, theo thẩm quyền của pháp luật về di sản văn hoá. Định mức đó có thật, có hiệu lực, và dùng được — chỉ là nó không phát sinh từ tầng hai của Điều 20.

Thẩm quyền ban hành định mức của cấp tỉnh: tự quyết từ 12/6/2025

Trước đây, địa phương thực hiện thẩm quyền ban hành định mức đặc thù thì phải có ý kiến thống nhất của Bộ Xây dựng. Yêu cầu này đã được bỏ.

Nghị định 144/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng đã bỏ bước xin ý kiến đó. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nay tự quyết định việc ban hành định mức dự toán cho công tác xây dựng đặc thù trên địa bàn.

Hai hệ quả thực tế đi kèm. Thứ nhất, thời gian ban hành ngắn lại đáng kể. Thứ hai, số lượng định mức địa phương tăng lên, nên người lập dự toán phải kiểm tra tỉnh nơi đặt công trình có ban hành gì mới không, thay vì mặc định là không có.

Lưu ý phân biệt. Cấp tỉnh ban hành định mức đặc thù, và cấp tỉnh cũng công bố giá vật liệu, đơn giá nhân công, giá ca máy và chỉ số giá xây dựng. Hai việc khác nhau. Định mức là hao phí hiện vật, được ban hành. Giá là tiền, được công bố định kỳ. Sau sáp nhập tỉnh năm 2025, phần giá đang rối hơn phần định mức — em viết riêng ở bài Đơn giá xây dựng sau sáp nhập tỉnh.

Ngoài thẩm quyền ban hành định mức còn ai được xác định định mức

Ba tầng ở Điều 20 nói về thẩm quyền ban hành định mức. Nhưng luật còn mở thêm mấy cửa khác, và chúng rất hay bị bỏ qua.

Chủ đầu tư và đơn vị lập dự toán

Điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định 206/2026/NĐ-CP quy định: trong quá trình lập tổng mức đầu tư xây dựng và dự toán xây dựng, chủ đầu tư cùng tổ chức, cá nhân lập dự toán được áp dụng, vận dụng, điều chỉnh định mức dự toán trên cơ sở hệ thống định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, hoặc căn cứ vào công nghệ thi công, biện pháp thi công, điều kiện thi công dự kiến để tổ chức xây dựng và xác định định mức.

Nghĩa là người lập dự toán không bị khoá cứng vào danh mục có sẵn. Nhưng đây là quyền xác định để dùng cho công trình cụ thể, không phải quyền ban hành định mức cho người khác dùng. Hai thứ khác nhau về giá trị pháp lý.

Cơ quan và tổ chức khác được khuyến khích

Khoản 4 Điều 77 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 khuyến khích các cơ quan, tổ chức khác xây dựng định mức dự toán rồi gửi về cơ quan ban hành định mức. Đây là cửa mở cho hiệp hội nghề, viện nghiên cứu, doanh nghiệp lớn đóng góp vào hệ thống chung.

Ban đơn giá xây dựng công trình

Với dự án cần thiết, khoản 5 Điều 24 Nghị định 206/2026/NĐ-CP cho phép người quyết định đầu tư thành lập Ban đơn giá xây dựng công trình để xác định giá vật liệu, cấu kiện, bộ phận công trình có yêu cầu thiết kế, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đặc thù, chuyên biệt. Chi phí hoạt động của ban được xác định bằng dự toán và tính trong tổng mức đầu tư của dự án.

Lưu ý đây là ban về giá, không phải về định mức. Nhưng nó đáng biết vì nó là công cụ hợp pháp cho các hạng mục mà hệ thống chung không phủ tới.

Thẩm quyền ban hành định mức đi kèm nghĩa vụ rà soát

Có thẩm quyền ban hành định mức thì có nghĩa vụ duy trì hệ thống đó. Khoản 2 Điều 20 quy định hệ thống định mức phải được rà soát, cập nhật thường xuyên theo định kỳ. Khoản 3 giao Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức, đôn đốc việc rà soát và ban hành hướng dẫn thực hiện.

Khoản 4 nêu ba việc mà bộ chuyên ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải làm:

ĐiểmViệc phải làm
aXác định danh mục, lập kế hoạch rà soát định mức hằng năm và gửi về Bộ Xây dựng để theo dõi, phối hợp, kiểm tra
bGiao cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc tổ chức rà soát, hoặc thuê tổ chức, cá nhân có năng lực thực hiện rà soát các định mức đã ban hành và xác định các định mức mới
cQuyết định việc ban hành, cập nhật định mức đã ban hành vào hệ thống cơ sở dữ liệu và báo cáo Bộ Xây dựng

Điểm c dẫn chiếu tới nghị định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng và cơ sở dữ liệu quốc gia — tức Nghị định 212/2026/NĐ-CP ngày 17/6/2026. Khoản 4 Điều 4 của nghị định này quy định hệ thống thông tin về định mức, giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng được vận hành độc lập tại địa chỉ cemia.gov.vn.

Vì sao chi tiết này có ích cho người làm hồ sơ. Nếu một định mức đã được ban hành hợp lệ thì nó phải có mặt trong cơ sở dữ liệu đó. Ngược lại, một bảng định mức lưu hành dưới dạng file mà không tra được ở đâu trong hệ thống chính thức là một dấu hỏi đáng đặt ra trước khi đưa vào hồ sơ.

Bốn việc kiểm tra khi hồ sơ dẫn định mức không phải của Bộ Xây dựng

Đây là quy trình gọn để tự soát trước khi trình, hoặc để soát hồ sơ do đơn vị khác lập.

  • Một — xác định định mức đó thuộc tầng thẩm quyền ban hành định mức nào. Của bộ chuyên ngành hay của tỉnh? Nếu của bộ, kiểm tra bộ đó có nằm trong năm bộ ở khoản 18 Điều 3 Luật Xây dựng không, hoặc có thẩm quyền theo luật chuyên ngành khác không.
  • Hai — kiểm tra công tác đó có trong Thông tư 38/2026/TT-BXD không. Nếu có, việc dùng định mức tầng dưới là sai nguyên tắc bổ khuyết và sẽ bị hỏi. Nhớ tra bản phụ lục kèm Công văn 9947/BXD-VPB ngày 29/6/2026.
  • Ba — kiểm tra văn bản còn hiệu lực không. Đặc biệt với định mức cấp tỉnh sau sáp nhập tỉnh năm 2025 — nhiều quyết định của tỉnh cũ đã bị bãi bỏ khi tỉnh mới ban hành bộ hợp nhất.
  • Bốn — ghi rõ căn cứ trong hồ sơ. Định mức tầng hai và tầng ba không phải văn bản mặc định, nên phần thuyết minh nên nêu luôn lý do: công tác này không có trong hệ thống của Bộ Xây dựng, do đó áp dụng định mức của cơ quan nào, theo văn bản số bao nhiêu.

Việc số bốn tốn thêm ba dòng khi lập, nhưng tiết kiệm được một vòng giải trình khi thẩm định. Nếu công tác của bạn không có ở cả ba tầng thì đó là tình huống khác — em xử lý riêng ở bài Công tác chưa có định mức thì làm thế nào.

Câu hỏi thường gặp về thẩm quyền ban hành định mức

Ai có thẩm quyền ban hành định mức xây dựng?

Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 206/2026/NĐ-CP có ba chủ thể: Bộ Xây dựng ban hành định mức sử dụng chung cả nước; bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành cho công tác chuyên ngành mà Bộ Xây dựng chưa có; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành cho công tác trên địa bàn mà cả hai cấp trên chưa có.

Bộ nào là bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành?

Khoản 18 Điều 3 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 liệt kê năm bộ: Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Quốc phòng, Xây dựng.

Tỉnh có phải xin ý kiến Bộ Xây dựng trước khi ban hành định mức không?

Không còn. Nghị định 144/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 đã bỏ yêu cầu địa phương phải có ý kiến thống nhất của Bộ Xây dựng trước khi ban hành định mức đặc thù.

Chủ đầu tư có được tự xác định định mức không?

Được, trong phạm vi công trình của mình, nhưng đây không phải thẩm quyền ban hành định mức. Điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định 206/2026/NĐ-CP cho phép chủ đầu tư và đơn vị lập dự toán áp dụng, vận dụng, điều chỉnh định mức dự toán, hoặc tổ chức xây dựng và xác định định mức căn cứ công nghệ, biện pháp và điều kiện thi công dự kiến. Đây không phải thẩm quyền ban hành định mức cho người khác dùng.

Định mức của bộ chuyên ngành và của Bộ Xây dựng, cái nào ưu tiên?

Không có quan hệ ưu tiên. Thẩm quyền ban hành định mức chia theo nguyên tắc bổ khuyết: bộ chuyên ngành chỉ ban hành phần Bộ Xây dựng chưa có. Trong một bộ dự toán, dùng cả hai, mỗi cái cho phần việc tương ứng.

Biết ai ban hành là bước một, tra đúng là bước hai

Thẩm quyền ban hành định mức chỉ giúp bạn biết mở văn bản nào. Con số cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khối lượng bóc từ bản vẽ có đúng hay không.

Trường Tạo nhận bóc tách khối lượng và lập dự toán theo khung pháp lý hiện hành — bảng Excel chi tiết tới từng đầu việc, ghi rõ căn cứ định mức của từng công tác. Xem Dịch vụ bóc khối lượng và lập dự toán, hoặc gọi hotline 0945 255 722.


Căn cứ tham chiếu: Luật Xây dựng số 135/2025/QH15; Nghị định 206/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026; Nghị định 212/2026/NĐ-CP ngày 17/6/2026; Nghị định 144/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025; Thông tư 38/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026; Công văn 9947/BXD-VPB ngày 29/6/2026. Bài viết cập nhật ngày 25/8/2026 — vui lòng đối chiếu bản gốc trước khi dùng làm căn cứ hồ sơ.

Để lại một bình luận