Khối lượng do máy sinh ra: ai chịu trách nhiệm và kiểm chứng thế nào

Bài 2 trong chuỗi ba bài về AI và đo bóc khối lượng. Bài 1 trả lời máy làm được gì. Bài này trả lời câu hỏi mà người ký hồ sơ quan tâm: pháp luật cho phép tới đâu, ai chịu trách nhiệm, và kiểm chứng đầu ra của máy bằng quy trình nào.
Biểu đồ so sánh sai lệch khối lượng ở dòng tổng và ở từng bộ phận kết cấu giữa bản vẽ CAD và mô hình BIM
Sai số ở dòng tổng che sai số bộ phận trong khối lượng BIM

Trả lời ngắn. Từ 01/7/2026, hướng dẫn của Bộ Xây dựng đã có hẳn một mục về việc xác định khối lượng từ mô hình BIM và từ phần mềm. Nghĩa là khối lượng do máy sinh ra không còn là chuyện phải giấu đi khi trình hồ sơ.

Nhưng không có điều khoản nào chuyển trách nhiệm sang phần mềm. Người chịu trách nhiệm vẫn là cá nhân có chứng chỉ hành nghề chủ trì xác định chi phí, và hồ sơ vẫn phải qua thẩm tra, thẩm định. Vì vậy câu hỏi đúng không phải “máy đo có chuẩn không” mà là “tôi kiểm chứng bằng cách nào và chứng minh được với người thẩm tra ra sao”.

Pháp luật Việt Nam đã mở tới đâu

Quyết định 1041/QĐ-BXD ngày 26/6/2026 công bố Hướng dẫn xác định khối lượng công trình, áp dụng từ 01/7/2026. Điểm đáng chú ý là Hướng dẫn này dành riêng Mục IV cho việc xác định khối lượng từ mô hình thông tin công trình (BIM) và các phần mềm, công cụ số, chia làm hai phần: lấy khối lượng từ mô hình BIM, và lấy khối lượng từ các phần mềm, công cụ số khác.

Đây là thay đổi về tư duy nhiều hơn là về kỹ thuật. Trước đó, khối lượng trích từ mô hình luôn ở thế phải chứng minh mình tương đương với cách làm thủ công. Nay nó được nêu tên trong hướng dẫn chính thức.

Một điều phải nói rõ để không ai hiểu sai. Quyết định 1041 là văn bản công bố hướng dẫn để tham khảo, sử dụng — không phải văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc. Nó không tạo ra quyền miễn trừ nào, và cũng không thay thế các quy định về thẩm định, thẩm tra. Chúng tôi đã phân tích chi tiết văn bản này trong bài Xác định khối lượng công trình theo Quyết định 1041/QĐ-BXD.

Cùng mạch đó, Quyết định 258/QĐ-TTg ngày 17/3/2023 đã đặt lộ trình bắt buộc áp dụng BIM, và Quyết định 2597/QĐ-TTg ngày 27/11/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 toàn bộ dự án hạ tầng mới áp dụng AI, IoT, GIS và BIM trong thiết kế, giám sát, quản lý.

Còn một điểm ít người biết: Việt Nam đã có Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15. Nhưng rà toàn bộ Luật Xây dựng và các nghị định, thông tư về chi phí đầu tư xây dựng hiện hành, không có điều khoản nào nhắc tới cụm từ “trí tuệ nhân tạo”. Khoảng trống đó không có nghĩa là được tự do — nó có nghĩa là các quy định cũ về trách nhiệm vẫn áp nguyên.

Trách nhiệm không chuyển giao được cho phần mềm

Ba lớp ràng buộc, xếp từ người làm ra hồ sơ đến người duyệt hồ sơ.

LớpCăn cứNội dung ràng buộc
Người lậpNghị định 212/2026/NĐ-CPQuy định lĩnh vực chứng chỉ hành nghề chủ trì xác định, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Trách nhiệm gắn với một con người có tên, không gắn với công cụ
Chủ đầu tưNghị định 206/2026/NĐ-CP, Điều 16Dự toán do chủ đầu tư tổ chức lập, được thẩm định cùng với thẩm định thiết kế triển khai. Việc thẩm tra do chủ đầu tư quyết định
Người thẩm địnhNghị định 206/2026/NĐ-CP, Điều 16 khoản 3Phải kiểm tra sự phù hợp của việc xác định khối lượng chủ yếu của công tác xây dựng, chủng loại và số lượng thiết bị

Đọc ba dòng đó cùng nhau thì thấy rõ: dù khối lượng được lập bằng tay, trích từ mô hình hay do phần mềm sinh ra, hồ sơ vẫn đi qua đúng chừng ấy cửa, và ở mỗi cửa vẫn có người hỏi cùng một câu.

Quốc tế đã đi trước một bước, và bước đó đáng để tham khảo

Ngày 09/3/2026, chuẩn nghề nghiệp “Responsible use of artificial intelligence in surveying practice” của Viện Khảo sát Hoàng gia Anh chính thức có hiệu lực bắt buộc với hội viên và các hãng chịu quản lý, khi AI có tác động trọng yếu tới dịch vụ cung cấp.

Bốn nghĩa vụ trong chuẩn này đáng chú ý vì chúng trả lời đúng câu hỏi “kiểm chứng thế nào”:

  • Với đầu ra có tác động trọng yếu, phải có văn bản đánh giá độ tin cậy của đầu ra, do một người hành nghề được nêu đích danh lập hoặc giám sát.
  • Với đầu ra tự động khối lượng lớn không thể soi từng dòng, phải lấy mẫu kiểm tra. Trách nhiệm không được miễn chỉ vì khối lượng quá lớn.
  • Phải ghi việc sử dụng AI vào điều khoản hợp đồng dịch vụ, và cho khách hàng quyền từ chối khi có thể.
  • Nếu đầu ra không đủ tin cậy, phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và ghi lại các giả định cùng mối lo ngại.

Giới luật nhận định các vụ kiện sơ suất nghề nghiệp sắp tới nhiều khả năng sẽ xoay quanh việc hãng có tuân thủ chuẩn này hay không. Với đơn vị tư vấn Việt Nam làm việc với chủ đầu tư nước ngoài, đây là thứ có thể nêu thẳng trong hồ sơ năng lực.

Bài học đắt nhất: sai số tổng nhỏ che sai số bộ phận rất lớn

Nếu chỉ được giữ lại một điều từ toàn bộ bài này, hãy giữ điều sau.

Một nghiên cứu năm 2025 so sánh khối lượng lập từ bản vẽ CAD với khối lượng trích từ mô hình BIM cho cùng một chung cư. Kết quả ở mức tổng trông rất yên tâm. Kết quả ở mức chi tiết thì không.

Hạng mụcLệch ở mức tổngLệch ở mức chi tiết
Bê tông2,32%Theo từng tầng lệch từ 8,12% đến 46,87%, tầng cao lệch nhiều nhất
Cốt thép−10,02%Tầng hầm −2 lệch −84,89%; tầng hầm −1 lệch −56,17%
Ván khuôn0,81%Chấp nhận được ở cả hai mức

Khoảng 20 tấn thép sai lệch được nhóm nghiên cứu truy ngược ra ba nguyên nhân cụ thể: đọc sai chi tiết bản vẽ 11,7 tấn, không xét đủ cốt thép mặt cắt 7,55 tấn, và xung đột giữa bản kiến trúc với bản kết cấu 0,57 tấn. Không nguyên nhân nào trong ba cái đó nhìn thấy được nếu chỉ soát con số tổng.

Nguyên tắc rút ra, và nó đi ngược thói quen. Soát khối lượng do máy sinh ra phải soát theo tầng và theo gói công tác, không bao giờ soát theo tổng. Sai số ngược dấu giữa các tầng sẽ triệt tiêu nhau và giấu mất vấn đề. Một bảng khối lượng lệch tổng 2% hoàn toàn có thể chứa một tầng lệch 47%.

Thêm hai chế độ thất bại đã được ghi nhận với khối lượng trích từ BIM. Thứ nhất, dữ liệu bị mất khi chuyển đổi qua định dạng IFC — thông tin cần cho việc tính khối lượng có thể biến mất trong quá trình xuất file. Thứ hai, và khó chịu hơn: trong cùng một mô hình, hai trường thuộc tính mô tả cùng một cấu kiện có thể lệch nhau tới 41,5%. Lấy khối lượng từ trường nào thì ra kết quả đó.

Bảy bước kiểm chứng khối lượng do máy sinh ra

Quy trình dưới đây gom lại từ bằng chứng ở trên và từ yêu cầu của cả pháp luật Việt Nam lẫn chuẩn nghề nghiệp quốc tế. Nó không phụ thuộc vào việc bạn dùng phần mềm nào.

1Chốt tỷ lệ và bộ bản vẽ trước khi chạy máy

Mọi công cụ đo tự động đều bắt người dùng xác nhận tỷ lệ và chọn tờ bản vẽ nào được tính. Đây là bước duy nhất mà sai một lần thì toàn bộ kết quả phía sau sai theo, và sai một cách nhất quán nên rất khó phát hiện. Ghi lại tỷ lệ đã chốt và danh mục tờ đã đưa vào tính.

2Tách riêng nhóm đếm và nhóm đo

Bằng chứng độc lập cho thấy máy đếm đáng tin hơn hẳn máy đo diện tích, và sai lệch ở nhóm đo có xu hướng thiếu hụt về một phía. Vậy nên phân bổ công sức soát không đều: nhóm đếm lấy mẫu kiểm tra là đủ; nhóm diện tích và thể tích phải soát kỹ hơn nhiều.

3Soát theo tầng và theo gói, không soát theo tổng

Đây là bước quan trọng nhất trong bảy bước. Lập bảng so sánh theo từng tầng hoặc từng gói công tác, rồi nhìn vào dòng nào lệch bất thường so với các dòng còn lại. Một tầng hầm lệch tám mươi phần trăm sẽ lộ ra ngay ở bảng này, và sẽ không bao giờ lộ ra ở con số tổng.

4Đối chiếu hai nguồn trên các hạng mục lớn

Chọn khoảng mười đến mười lăm phần trăm giá trị lớn nhất của bảng khối lượng, đo lại bằng phương pháp thủ công, rồi so. Đây chính là cách làm mà chuẩn nghề nghiệp quốc tế gọi là lấy mẫu kiểm tra, và nó đủ để phát hiện sai lệch có hệ thống mà không tốn công soát toàn bộ.

5Bổ sung thủ công phần máy không thể thấy

Chi phí chung và công tác tạm, chống vách đất, hao hụt vật liệu, chiều dài nối chồng cốt thép, khối lượng phát sinh do biện pháp thi công. Những thứ này không nằm trên bản vẽ nên không có công cụ nào đọc ra được. Bài 1 trong chuỗi này phân tích kỹ vì sao.

6Giữ đường truy vết từ từng dòng khối lượng về bản vẽ gốc

Mỗi con số trong bảng phải mở ngược được ra phép đo cấu thành, và từ phép đo mở được ra đúng vị trí trên bản vẽ. Đây vừa là điều kiện để trả lời người thẩm tra, vừa là thứ mà chuẩn quốc tế đòi hỏi. Một bảng khối lượng đúng nhưng không giải thích được nguồn gốc vẫn là bảng khối lượng khó dùng.

7Ghi lại ai soát, soát cái gì, soát ngày nào

Không có bước này thì sáu bước trên không chứng minh được với bất kỳ ai. Một trang ghi chú đơn giản là đủ: tỷ lệ đã chốt, danh mục tờ bản vẽ, các hạng mục đã đối chiếu hai nguồn, các sai lệch đã phát hiện và cách xử lý, tên người soát và ngày soát.

Hồ sơ nên chuẩn bị gì cho thẩm tra

Thực tế phòng họp thẩm tra rất đơn giản: người ta chọn vài dòng có giá trị lớn và hỏi con số đó ở đâu ra. Ba thứ nên có sẵn trong tay:

  • Bảng khối lượng có cột ghi nguồn — dòng này đo từ tờ bản vẽ nào, ở cao độ nào, thuộc tầng nào.
  • Khả năng mở ngay tại chỗ phép đo cấu thành của một dòng bất kỳ và chỉ được vị trí trên bản vẽ.
  • Trang ghi chú kiểm chứng ở bước 7, cho thấy quy trình đã chạy chứ không phải xuất file rồi nộp.

Ba thứ này rút thời gian một buổi thẩm tra xuống rất nhiều, và quan trọng hơn, chúng chuyển cuộc họp từ thế phải biện minh sang thế trình bày.

Các bài khác trong chuỗi

Cần một bộ hồ sơ khối lượng đi qua được thẩm tra?

Chúng tôi lập khối lượng và dự toán cho chủ đầu tư, công ty kiến trúc, tổng thầu và chủ nhà. Điều kiện chúng tôi tự đặt cho mọi bộ hồ sơ:

  • Mỗi dòng khối lượng soát ngược được về đúng vị trí trên bản vẽ
  • Soát theo tầng và theo gói công tác, không soát theo tổng
  • Phần chi phí chung, công tác tạm và hao hụt được bổ sung thủ công đúng quy tắc đo
  • Kèm ghi chú kiểm chứng để dùng khi thẩm tra
Gửi bản vẽ – nhận báo giá Nhắn Zalo 0945 255 722 Gọi 0945 255 722

Câu hỏi thường gặp

Có được dùng khối lượng do phần mềm xuất ra để trình thẩm định không?

Được. Hướng dẫn kèm Quyết định 1041/QĐ-BXD có mục riêng về xác định khối lượng từ mô hình BIM và từ các phần mềm, công cụ số. Nhưng hồ sơ vẫn phải qua thẩm tra, thẩm định như mọi hồ sơ khác, và người thẩm định vẫn kiểm tra sự phù hợp của việc xác định khối lượng chủ yếu.

Nếu khối lượng do máy xuất ra bị sai thì ai chịu trách nhiệm?

Vẫn là cá nhân có chứng chỉ hành nghề chủ trì xác định chi phí và chủ đầu tư tổ chức lập hồ sơ. Không có điều khoản nào trong pháp luật xây dựng Việt Nam miễn trừ trách nhiệm khi khối lượng do phần mềm hoặc mô hình sinh ra.

Quyết định 1041 là văn bản bắt buộc hay tham khảo?

Là văn bản công bố hướng dẫn để tham khảo, sử dụng — không phải văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc. Nó cho thấy quan điểm của cơ quan quản lý, nhưng không tạo ra quyền hay nghĩa vụ mới.

Soát bao nhiêu phần trăm bảng khối lượng là đủ?

Không có con số quy định. Cách làm hợp lý là soát toàn bộ theo tầng và theo gói ở mức so sánh tổng hợp, rồi đối chiếu hai nguồn chi tiết trên khoảng mười đến mười lăm phần trăm giá trị lớn nhất. Quan trọng hơn tỷ lệ là việc chọn đúng chỗ để soát và ghi lại đã soát gì.

Khối lượng trích từ BIM có chính xác hơn đo từ bản vẽ 2D không?

Không tự động chính xác hơn. Nó chính xác đúng bằng mức mô hình được dựng. Nghiên cứu năm 2025 ghi nhận trong cùng một mô hình, hai trường thuộc tính mô tả cùng một cấu kiện lệch nhau tới 41,5%, và dữ liệu có thể mất khi xuất qua định dạng IFC.

Căn cứ sử dụng trong bài: Quyết định 1041/QĐ-BXD ngày 26/6/2026 công bố Hướng dẫn xác định khối lượng công trình, Mục IV · Nghị định 206/2026/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Điều 16 · Nghị định 212/2026/NĐ-CP về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng · Quyết định 258/QĐ-TTg ngày 17/3/2023 và Quyết định 2597/QĐ-TTg ngày 27/11/2025 · RICS Professional Standard “Responsible use of artificial intelligence in surveying practice”, hiệu lực 09/3/2026 · Saavedra R., Meléndez W., Garcés G. (ITcon, 2025) so sánh khối lượng CAD và BIM · Valinejadshoubi M. và cộng sự (Buildings, 2025) về kiểm soát chất lượng khối lượng từ BIM.
Bài viết rà soát ngày 18/9/2026. Nội dung mang tính tham khảo chuyên môn; khi lập hồ sơ chính thức nên đối chiếu nguyên văn văn bản trên Công báo Chính phủ.